SieuThiDoCung.comSiêu Thị Đồ Cúng
Văn khấn theo dịp

Văn khấn lễ hoá vàng sau Tết: bài khấn tạ năm mới, tiễn gia tiên và khấn nôm

Bài văn khấn lễ hoá vàng sau Tết (mùng 3, mùng 4 hoặc ngày nhà chọn) theo khuôn phổ biến: tạ thần linh, tiễn gia tiên; chỗ điền thông tin và bản khấn nôm ngắn.

An elderly man seen from behind in a dark traditional tunic holding three incense sticks before a family altar with candles, late afternoon golden light, quiet room

Lễ hoá vàng sau Tết (thường mùng 3, có nhà mùng 4, mùng 7 hoặc ngày khác theo nếp) có bài khấn mang hai ý: tạ ơn thần linh đã cho gia đình đón Tết bình yên, và kính tiễn gia tiên sau những ngày về ăn Tết cùng con cháu. Sau lời khấn, khi hương gần tàn, gia đình xin phép hoá vàng rồi hạ lễ.

Dưới đây là bài khấn theo khuôn phổ biến trong sách văn khấn cổ truyền, có nhiều dị bản; kèm bản khấn nôm và các lưu ý khi đọc. Việc hoá vàng (hoá gì, ở đâu, an toàn ra sao) có bài riêng ở danh mục vàng mã; trình tự cả lễ ở danh mục lễ cúng theo dịp.

Lễ hoá vàng: tạ và tiễn

Trong nếp Tết của nhiều gia đình, gia tiên được rước về từ chiều 30 và ở cùng con cháu những ngày đầu năm. Lễ hoá vàng là lễ kết thúc dịp Tết ở bàn thờ: con cháu thưa với ông bà rằng Tết đã xong, kính tiễn ông bà, và hoá số vàng mã đã sắm cho dịp Tết.

Lời khấn vì vậy khác lời khấn mùng 1: thay vì "kính mời về", bài khấn hoá vàng có ý "kính tiễn", kèm lời tạ ơn. Nhiều nhà khấn thần linh trước, gia tiên sau, như các lễ khác. Có nhà khấn một bài chung.

Với nhiều người, đây là lễ có cảm xúc riêng: Tết sắp hết, con cháu chuẩn bị đi xa, bàn thờ lại trở về nhịp thường ngày. Lời khấn tiễn vì thế nên đọc chậm, không vội, để con cháu đứng sau cùng nghe.

Ngày làm lễ khác nhau theo nhà. Nhiều nhà chọn mùng 3 vì là ngày cuối của "ba ngày Tết"; nhà khác chọn theo lịch, theo ngày con cháu còn đủ mặt trước khi đi làm lại. Ngày nào thì bài khấn vẫn dùng được, chỉ đổi phần ngày tháng.

Chuẩn bị trước khi khấn hoá vàng

Phần chuẩn bị riêng cho lễ này, ngoài lễ vật thường ngày:

  • Bày lễ: hương, hoa, quả, chén trà, chén rượu, có nhà thêm mâm cơm tiễn theo nếp. Món trên mâm là chuyên đề riêng.
  • Hạ vàng mã đã bày trên bàn thờ từ chiều 30, xếp gọn, tách phần thần linh và gia tiên nếu nhà chia riêng.
  • Chuẩn bị chỗ hoá vàng ngoài trời, thùng kim loại, xô nước trước khi bắt đầu khấn.
  • Ghi sẵn tên người khấn, địa chỉ, ngày âm lịch làm lễ (mồng Ba, mồng Bốn…) và tên năm.
  • Báo cả nhà giờ làm lễ để con cháu có mặt, nhất là những ai sắp đi xa.
  • Nhà có hai bàn thờ (gia tiên và thần linh, hoặc gia tiên và người mới mất) thì chuẩn bị lễ ở cả hai, khấn lần lượt.
  • Nếu người khấn chính là người cao tuổi, chuẩn bị ghế hoặc để con cháu đứng khấn thay khi đứng lâu mỏi.

Lễ hoá vàng thường không cần sắm thêm nhiều; phần lớn lễ vật là đồ còn lại từ những ngày Tết, chỉ thay hoa, thêm chén trà, chén rượu mới.

Số nén hương theo tập quán thường là ba nén mỗi bát. Khấn xong, chờ hương cháy khoảng hai phần ba hoặc gần tàn mới xin hoá vàng; không vội đốt ngay sau khi khấn.

Lễ hoá vàng và lễ khai hạ mùng 7: đừng nhầm

Ở miền Bắc, mùng 7 tháng Giêng theo tập quán là ngày khai hạ, gắn với tục hạ cây nêu ở những nơi còn dựng nêu ngày Tết, đánh dấu Tết đã hết, mọi việc làm ăn bắt đầu lại. Một số gia đình làm lễ hoá vàng đúng ngày này, gộp hai việc vào một lễ.

Vì vậy khi nghe người này nói hoá vàng mùng 3, người kia nói mùng 7, cả hai đều đang theo nếp riêng của nhà mình. Bài khấn hoá vàng dùng chung được, chỉ đổi phần ngày. Nhà làm lễ khai hạ riêng có thể khấn thêm ý Tết đã xong, xin mọi việc trong năm thuận lợi.

Ở miền Nam, nhiều gia đình gọi lễ này là đưa ông bà, làm mùng 3 hoặc mùng 4, có nhà không hoá vàng mà chỉ cúng tiễn. Không có ngày nào là chuẩn chung cho cả nước.

Bài văn khấn lễ hoá vàng (bản phổ biến)

Bài dưới đây gộp lời tạ thần linh và lời tiễn gia tiên, theo một khuôn thường gặp. Nhiều sách tách làm hai bài riêng; câu chữ có khác nhau:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần, ngài Bản gia Táo quân, Thổ địa, Long mạch.
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và toàn thể hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ và tên), cùng toàn gia con cháu. Ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày mồng (Ba, Bốn…) tháng Giêng năm (tên năm âm lịch).
Mấy ngày Tết vừa qua, con cháu được đón ông bà về cùng ăn Tết, đón xuân. Nay lễ Tết đã xong, con cháu thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật, kính cáo lễ tạ, xin phép hoá vàng, kính tiễn gia tiên.
Cúi xin chư vị Tôn thần và các cụ hương linh gia tiên chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu năm mới bình an, gia đạo hoà thuận.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Ở câu "kính tiễn gia tiên", nhiều bản viết "kính tiễn các cụ trở về âm cảnh"; dùng chữ nào là tuỳ nhà. Người mới khấn có thể đọc theo bản ở trên, rồi dần chỉnh theo sách hoặc lời dặn của người lớn trong họ.

Bản khấn nôm lễ hoá vàng

Bản khấn nôm giữ đủ ba ý: thưa Tết đã xong, cảm tạ, xin phép hoá vàng tiễn ông bà. Một bản tham khảo, đọc khi đứng trước bàn thờ:

"Con lạy các vị thần linh, con lạy ông bà tổ tiên.
Con là (họ tên), cùng cả nhà, đang ở (địa chỉ).
Hôm nay là ngày mồng (…) Tết năm (tên năm). Mấy ngày Tết được đón ông bà về ăn Tết cùng con cháu, cả nhà vui vẻ đầy đủ.
Nay Tết đã xong, con cháu xin dâng lễ tạ, xin phép hoá vàng, kính tiễn ông bà.
Con xin ông bà phù hộ cho cả nhà năm mới mạnh khoẻ, đi làm, đi học thuận lợi. Con xin cảm tạ."

Đứng ở chỗ hoá vàng, nhiều người khấn thêm một câu ngắn: "Con xin kính tiễn ông bà", rồi mới châm lửa. Câu này không có trong bài văn cổ nhưng là nếp của nhiều nhà, giữ hay không tuỳ gia đình.

Trình tự lễ hoá vàng gọn trong một buổi

Trình tự dưới đây là nếp khá phổ biến:

  1. Bày lễ, thay nước, thắp nến hoặc bật đèn.
  2. Người chủ lễ thắp hương, vái, đọc bài khấn hoá vàng; con cháu đứng sau.
  3. Chờ hương cháy khoảng hai phần ba; trong lúc chờ, chuẩn bị chỗ hoá.
  4. Người chủ lễ vái, khấn ngắn xin phép hoá vàng.
  5. Hạ vàng mã, mang ra chỗ hoá; hoá phần thần linh trước, gia tiên sau theo nếp phổ biến.
  6. Khi lửa nhỏ, nhiều nhà rưới chén rượu cúng lên tro; đứng lùi lại khi rưới.
  7. Dập tro, quay vào hạ lễ, thụ lộc. Bàn thờ trở lại hương hoa như ngày thường.

Nếu nhà không hoá vàng, bỏ các bước liên quan đến hoá; lời khấn vẫn giữ ý tạ và tiễn. Câu "xin phép hoá vàng" trong bài có thể lược đi.

Sau khi hạ lễ, nhiều nhà giữ bàn thờ thêm vài ngày với hoa tươi, mâm ngũ quả. Bánh chưng, bánh tét, mứt kẹo trên bàn thờ hạ xuống dần, đừng để quá lâu trong những ngày nồm ẩm.

Khi cả nhà phải đi làm sớm: làm lễ gọn mà vẫn đủ ý

Nhiều gia đình ở thành phố chỉ được nghỉ đến mùng 4, mùng 5, có người phải lên đường từ mùng 3. Lễ hoá vàng vì thế hay bị dồn vào buổi sáng vội vàng. Vài cách để lễ vẫn trọn vẹn: làm lễ chiều hôm trước khi con cháu còn đủ mặt; hoặc khấn và hoá vàng trong buổi sáng, phân công rõ ai trông lửa để người đi xa yên tâm lên đường.

Lời khấn có thể rút gọn: đọc phần kính lạy, phần trình tên tuổi, ngày tháng, câu tạ và câu tiễn, câu kết. Khấn nôm cũng được, miễn đủ ý. Người lớn tuổi thường hiểu hoàn cảnh con cháu và coi trọng việc cả nhà cùng đứng trước bàn thờ hơn độ dài của bài khấn.

Điều không nên rút gọn là khâu an toàn: không hoá vàng vội rồi bỏ đi khi tro còn nóng, không để hương nến cháy khi nhà vắng người sau Tết. Nếu không kịp, lùi việc hoá vàng sang lúc có người ở nhà.

Những thắc mắc hay gặp quanh lời khấn hoá vàng

Khấn một bài hay hai bài. Nhà có bàn thờ thần linh riêng thường khấn hai bài ở hai ban. Nhà chỉ có một bàn thờ, khấn bài gộp ở trên là đủ. Không có lời dặn cổ truyền nào bắt phải tách.

Ai khấn khi người lớn đã về quê. Con cháu ở nhà riêng đứng khấn, đọc tên mình, nói rõ khấn thay bố mẹ nếu cần.

Không có vàng mã thì khấn thế nào. Bỏ câu xin phép hoá vàng, giữ lời tạ và tiễn. Lễ vẫn trọn vẹn.

Khấn hoá vàng xong có phải dọn hết đồ Tết không. Không bắt buộc. Nhiều nhà để mâm ngũ quả, cành đào đến rằm tháng Giêng; chỉ hạ phần lễ vật ăn được để thụ lộc.

Đọc văn khấn trên điện thoại. Được; để im lặng, giảm sáng, đọc chậm. Nhiều người mới khấn bắt đầu như vậy.

Con dâu, con rể có đứng khấn được không. Được. Khi người trong họ vắng, con dâu, con rể đứng khấn thay, đọc tên mình và quan hệ với gia đình. Nhiều nhà coi đây là chuyện bình thường.

Ông bà ở nhà bác trưởng, nhà mình có cần lễ hoá vàng không. Nhiều nhà con thứ chỉ thắp hương, khấn ngắn tạ Tết ở bàn thờ nhà mình, phần lễ chính do nhà trưởng làm. Theo nếp trong họ.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hoá vàng sau Tết có bắt buộc làm mùng 3 không?

Không. Mùng 3 là ngày phổ biến, nhưng nhiều nhà làm mùng 4, mùng 5, mùng 7 hoặc ngày chọn theo lịch, theo ngày con cháu đủ mặt. Bài khấn dùng chung, chỉ đổi phần ngày tháng âm lịch.

Văn khấn hoá vàng có cần đọc ở chỗ đốt không?

Bài khấn chính đọc trước bàn thờ. Ở chỗ hoá vàng, nhiều người chỉ khấn một câu ngắn kính tiễn ông bà trước khi châm lửa. Không cần đọc lại cả bài ngoài trời.

Nhà ở chung cư không hoá vàng được thì khấn thế nào?

Vẫn khấn tạ và tiễn gia tiên như bình thường, bỏ câu xin phép hoá vàng hoặc nói rõ sẽ hoá ở khu của toà nhà. Nhiều gia đình ở chung cư chỉ giữ lễ khấn mà không hoá vàng.

Có khấn Thổ công riêng trong lễ hoá vàng không?

Tuỳ nhà. Nhà có bàn thờ thần linh, Thổ công riêng thường khấn tạ ở ban đó trước. Bài gộp ở trên đã có lời kính lạy Táo quân, Thổ địa, Long mạch nên dùng được cho bàn thờ chung.

Sau lễ hoá vàng có thắp hương bàn thờ nữa không?

Có. Bàn thờ trở lại nếp ngày thường: thắp hương vào rằm, mùng một và những ngày gia đình quen thắp. Nhiều nhà vẫn thắp hương hằng ngày. Lễ hoá vàng chỉ khép lại dịp Tết.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.